Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Trĩ

Những đối tượng dễ mắc bệnh trĩ nhất

123suckhoe.com - 30/08/2013 1501

Các bác sỹ chuyên khoa của phòng khám đa khoa Khương Trung cho biết: Từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào có kết luận về những đối tượng dễ bị bệnh trĩ. Người ta cũng chưa thể đưa ra kết luận giữa mối quan hệ người mắc bệnh trĩ và con cái của họ. Tuy nhiên, có khá nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, có một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh trĩ. Dưới đây là những nhóm đối tượng có khả năng bị mắc trĩ cao.


Những đối tượng dễ mắc bệnh trĩ nhất

Người phải đứng nhiều, ngồi lâu, ít vận động do tính chất công việc như nhân viên bán hàng, thợ may, thư ký, ....

Những người mắc bệnh táo bón kinh niên , khi đi tiêu phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong lòng ống hậu môn khiến các búi trĩ to dần và sa ra ngoài gây lên bênh trĩ.

Những người bị kiết lỵ: Người bị kết lỵ có cùng đặc điểm là phải đi cầu nhiều lần trong ngày làm tăng áp lực trong ổ bụng và làm tăng thể tích của búi trĩ.

Ngoài ra, những bệnh nhân mắc các bệnh khác như hội chứng ruột kích thích, tăng áp lực trong ổ bụng , u bướu vùng hậu môn trực tràng và các vùng xung quanh cũng có nguy cơ mắc bệnh trĩ.

Phụ nữ mang thai: Khi mang thai, tử cung của người phụ nữ mở rộng làm tăng áp lực tĩnh mạch khu vực hậu môn gây ra bệnh trĩ.

Phụ nữ cho con bú : thường mắc bệnh trĩ, táo bón do hậu quả của quá trình mang thai để lại. Đồng thời trong thời gian cho con bú, họ thường có thói quen kiêng khem trong chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt. Điều này càng làm tăng nguy cơ mắc bệnh trĩ.

Bệnh trĩ gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng cuộc sống. Đi tiêu ra máu, búi trĩ bị tắc gây đau, đi tiêu khó khăn đã hành hạ họ và làm cho người bệnh rất không thoải mái, thậm chí còn rất mất tự tin.

Một thực trạng rất đáng lo ngại là những người bị bệnh trĩ thường đi khám và điều trị trĩ rất trễ vì tâm lý e ngại, nhất là phụ nữ. Còn có người ôm mãi nổi niềm không biết bày tỏ cùng ai đến hàng chục năm, âm thầm chịu đựng và khi đến bệnh viện thì tổn thương thường là quá lớn, phương pháp điều trị nhỏ ít xâm lấn không còn tác dụng, mà phương pháp điều trị lớn thì tốn kém, xâm lấn nhiều hơn và đau đớn cũng nhiều hơn.

Trên đây là một số nhóm đối tượng dễ mắc bệnh trĩ. Bệnh trĩ hiện có thể điều trị được. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là hãy tới bệnh viện hoặc phòng khám chuyên khoa ngay khi có các biểu hiện trĩ.

Diếp cá chữa bệnh trĩ

Xaluan.com - 15/01/2014 2196

Cây lá diếp cá còn gọi là rau giấp cá, ngư tinh thảo, là một loại cây mọc hoang và được trồng làm rau ăn vùng châu Á, rất quen thuộc trong bữa ăn các gia đình Việt Nam.


Diếp cá chữa bệnh trĩ

ảnh minh họa

Độc giả Huỳnh Công Hùng (huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh) thắc mắc: "Dân gian ta có bài thuốc trị bệnh trĩ bằng cây lá diếp cá. Xin hỏi cây này trị trĩ nội hay trĩ ngoại, thời gian dùng và liều dùng ra sao?".

Theo y học cổ truyền, cây diếp cá có công năng: thanh nhiệt giải độc, sát trùng, tiêu thủng, lợi tiểu mạnh làm bền mao mạch (do có hợp chất flavonoit). Cây diếp cá thường dùng chữa táo bón, trĩ, lòi đom, viêm ruột, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm thận phù thũng, dị ứng ngoài da, đắp chữa đau mắt đỏ...

Liều dùng để chữa bệnh thường là 20-40g tươi/ngày, 6-12g khô/ngày. Dùng tươi, thì giã vắt lấy nước hoặc xay như sinh tố uống. Dùng khô thì sắc uống, cách nào cũng kết quả tốt. Dùng liên tục 10-20 ngày, nghỉ 7-10 ngày rồi lại tiếp tục, nên kết hợp thêm một số vị thuốc khác để tăng hiệu quả như hoa hòe, quả dành dành, lá trắc bá diệp, cỏ mực sao đen...

Theo kinh nghiệm chúng tôi, lá diếp cá có tác dụng chữa trĩ nội xuất huyết (đi ngoài xuất huyết ra từng giọt, đau, táo bón) và trĩ ngoại bội nhiễm (hậu môn sưng đỏ đau, múi trĩ sưng to ngồi đứng không yên). Tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt, bệnh nhân nên đến khám tại các phòng mạch hoặc khoa y học cổ truyền để được hướng dẫn cụ thể.

Cây lá bỏng trị trĩ nội

Xaluan.com - 15/11/2013 2017

Dân gian gọi cây lá bỏng (dùng để trị bỏng) bằng một tên khác nữa đó là: Cây sống đời! Loại cây này ngoài đặc trưng chữa bỏng ra còn có tác dụng chữa bệnh sỏi thận, gút, cao huyết áp, ung loét, các bệnh về da, điều hòa kinh nguyệt, giảm sốt, đau đầu, tức ngực, ho, giảm đau...


Cây lá bỏng trị trĩ nội

ảnh minh họa

Do có tác dụng kháng khuẩn nên cây lá bỏng cũng trị một số bệnh đường ruột và bệnh nhiễm trùng khác.

* Lá bỏng nóng chữa bệnh

- Chữa nhức đầu: Đun lá bỏng trong lò vi sóng hoặc bếp lửa rồi đắp lên trán khi lá vẫn còn nóng. Sau đó, đun nóng lá lại để đắp nhiều lần lên trán ít nhất trong mười phút.

- Giảm cơn đau lưng, thấp khớp: Đun lá bỏng, nằm sấp và đắp lên vùng bị đau khi lá còn nóng. Nếu không chịu được sức nóng, thay vì đun nóng lá có thể đặt một miếng lót nóng hoặc chai nước nóng ở trên lá. Khi cần di chuyển có thể quấn lá xung quanh vùng bị đau để giữ ấm trong ngày.

- Làm khỏe chân: Lấy ít nhất 3 lá bỏng ngâm trong nước nóng, có thể ngâm chung với dầu bạc hà hoặc dầu khuynh diệp. Ngâm ngập chân trong nước ít nhất nửa giờ đồng hồ. Sau đó, làm nóng hai lá bỏng khác để đặt dưới lòng bàn chân và mang tất để ngủ suốt đêm.

- Chữa mắt lẹo: Làm nóng lá bỏng để đắp lên mắt trong một hoặc hai phút từ 3 đến 6 lần/ngày. Có thể thực hiện luân phiên bằng cách rửa mắt với nước chứa thành phần boric, nhưng tốt hơn nên đắp lá trên mắt.

* Làm thuốc dân gian

Theo đông y, ngọn và lá bỏng non có vị chát, hơi chua, tính mát, giúp giải độc, cầm máu, chữa bỏng, hoạt huyết chỉ thống, tiêu thũng...

Ở một số vùng, người ta còn lấy lá bỏng non để nấu canh và dùng làm thuốc đắp vết thương, mụn nhọt, mắt đỏ sưng đau. Do có tác dụng kháng khuẩn nên cây lá bỏng còn dùng trong chữa trị một số bệnh về đường ruột, viêm ruột, trĩ nội, đi ngoài ra máu, viêm loét dạ dày...

- Trị thương: Đắp lá bỏng giã nhuyễn lên vết thương, sau mỗi ba giờ đồng hồ thay lá khác đắp lại.

- Chữa trĩ nội: Mỗi ngày dùng 10 lá bỏng (sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá) nhai nuốt bớt nước, bã bỏ vào gạc vải, đắp lên hậu môn. Trước khi đắp thuốc phải làm vệ sinh vết thương bằng nước pha muối. Sau 20-45 ngày sẽ khỏi.

Mất ngủ: Chiều và tối ăn mỗi lần 8 lá bỏng, giấc ngủ sẽ sâu hơn.

- Giã rượu: Chỉ cần nhai 10 lá bỏng giúp giảm cơn say.

- Cầm máu: Khi đứt tay, rửa sạch 3 - 4 lá bỏng, giã nát để đắp lên vết thương hoặc rửa sạch một nắm lá, giã nhuyễn hòa chung với nước sôi để nguội, lọc lấy nước cốt để uống. Nếu chảy máu cam, giã từ 1 - 2 lá bỏng, dùng bông gòn thấm nước chấm bên trong mũi.

- Thêm sữa cho sản phụ: Ăn 10 lá bỏng rửa sạch vào buổi sáng và chiều liên tiếp từ 2 - 3 ngày.

- Ngừa viêm tấy: Khi viêm tai, giã nhuyễn lá bỏng, vắt lấy nước để thấm vào tai. Trường hợp viêm amiđan, xay nhuyễn 5 - 10 lá bỏng, lọc lấy nước để súc miệng.

Nếu viêm họng, rửa sạch 10 lá bỏng chia làm nhiều lần để nhai sống trong ngày, buổi sáng 4 lá, chiều 4 lá và tối 2 lá. Khi nhai nên ngậm trong miệng một lúc rồi nuốt cả nước lẫn cái. Muốn trừ chứng viêm đại tràng, mỗi ngày ăn 20 lá bỏng, buổi sáng 8 lá, chiều 8 lá và tối 4 lá. Trẻ em từ 5 - 10 tuổi dùng nửa liều của người lớn. Ăn liên tục trong năm ngày.

- Trị bỏng nhẹ: Rửa sạch lá bỏng, giã nát để đắp lên vết thương từ 3 - 4 lần/ ngày.

- Xóa bầm vết thương: Rửa sạch một nắm lá bỏng, giã nhuyễn trộn thêm chút rượu trắng và đường để uống. Hoặc giã nhuyễn 30 - 60g lá bỏng đã rửa sạch, lọc lấy nước thêm mật ong để uống. Thời gian tan máu bầm nhanh hoặc chậm còn tùy thuộc vào số lượng lá.

- Chữa đại tiện ra máu: Lấy 30gr lá bỏng, 10gr cỏ nhọ nồi, 10gr ngải cứu (sao cháy), 10gr lá trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày một thang.

Tuy cây lá bỏng có thể chữa được nhiều bệnh, nhưng cũng giống các thảo dược khác người sử dụng nên thận trọng vì nếu dùng không hợp người, hợp bệnh có thể gây hại.

Bài thuốc, món ăn lợi sức khỏe từ hành tây

Xaluan.com - 15/01/2014 1899

Nước ép hành tây có lợi cho người bệnh đường ruột, bệnh trĩ. Hành tây giã nhuyễn đắp giúp làm dịu da, trị chân nứt nẻ, vết thương lở loét, ong hoặc rệp đốt. Gỏi hành tây, cật heo có ích cho đàn ông trong chuyện phòng the.


Nước ép hành tây tốt cho bệnh nhân đường ruột, trĩ.

Nước ép hành tây tốt cho bệnh nhân đường ruột, trĩ.

Hành tây hay còn gọi củ hành, là loại cây có giò phình to, gồm nhiều vẩy thịt tức là các bẹ lá chứa nhiều chất dinh dưỡng. Hình dạng có khác nhau tùy giống như hình cầu, hình cầu hơi dẹt, bầu dục, hoặc hình bầu dục dài; thường có màu trắng, vàng hoặc tím.

Ảnh: mcgill

Hành tây thường có màu trắng, vàng hoặc tím. Ảnh: mcgill

Hành tây được người phương Tây sử dụng làm rau ăn từ rất lâu đời. Người Việt Nam đã nhập trồng thành công và sử dụng thông dụng trong các bữa ăn, bữa tiệc, dưới dạng trộn dầu giấm ăn sống, trộn chung trong đĩa xà lách, làm tăng hương vị cho các món gỏi (gỏi ngó sen, gỏi su hào, gỏi dưa leo, gỏi cóc...), xào với các loại thịt, trứng, nấu súp, cà ri...

Trong hành tây chứa một hoạt chất sinh học là hormon prostaglandine A, giúp điều hòa huyết áp và thành phần máu, ngăn chặn việc hình thành các cục huyết khối và sự xuất hiện của bệnh ung thư máu.

Hành tây có tác dụng kích thích, lợi tiểu, hòa tan, làm giảm urê và các chlorua, làm dễ tiêu hóa, sát khuẩn, chống nhiễm khuẩn, trị ho, giúp an thần nhẹ, chống đau nhức, mệt mỏi, bổ thần kinh, bổ dưỡng cơ thể, giúp phòng ngừa huyết khối, đái tháo đường, các bệnh ngoài da...

Hành tây thường được khuyên dùng trong các trường hợp như suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, đi tiểu ít, phù thũng, thừa urê huyết, tăng chlorua huyết, đầy hơi, giảm nhu động ruột, viêm nhiễm đường tiết niệu - sinh dục, suy giảm sinh dục, đái tháo đường, béo phì, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, ký sinh trùng đường ruột, cảm cúm, nhức đầu...

Ngày dùng 50-100 g trong các bữa ăn hoặc ngâm trong nước nóng để ăn.

Trường hợp bị các bệnh về đường ruột, khó tiêu hay bệnh trĩ: Dùng nước ép hành tây, mỗi ngày từ 3 đến 4 lần trước bữa ăn, mỗi lần một muỗng cà phê.

Chữa nhức đầu, viêm phế quản: Dùng hành tây băm nhuyễn, bọc trong vải gạc sạch, hít mùi cay hăng (chất phytoncides) trong hành tây khoảng 10 đến 15 phút.

Dùng ngoài da: Rửa sạch, giã nhuyễn đắp giúp làm dịu da, sát khuẩn, tan sưng, chống đau trong các trường hợp mụn nhọt, chín mé, chân bị nứt nẻ, vết thương lở loét, ong hoặc rệp đốt. Nước hành tây dùng xoa bóp da mặt để giúp tẩy các vết tàn nhang, vết nám; xoa nước hành tây lên tóc sẽ giúp tóc dày hơn và mọc nhanh hơn.

Người ta còn dùng để xua muỗi bằng cách cắt đôi củ hành tây hoặc vò nhẹ rồi để cạnh giường ngủ.

Một số món ăn với hành tây:

1. Món gỏi cật heo, hành tây 

Là món ăn rất có ích cho đàn ông trong chuyện phòng the. Đây là món ăn dễ thực hiện với vật liệu đơn giản mà lại có hiệu quả tốt.

Cách làm: Dùng 2 trái cật heo làm sạch, khứa vẩy rồng và cắt làm 3 hoặc 4 miếng vừa ăn. Cho vào nồi nước sôi có pha ít muối và rượu trắng, trụng đến khi thấy các vết khứa nở ra thì vớt, để ráo.

Hành tây 1 củ cắt mỏng theo chiều dọc.

Phi tỏi trong chảo cho thơm rồi nêm dầu hào, muối, đường, nếm thấy có vị mặn ngọt vừa miệng là được.

Dùng nước xốt này để trộn cật heo và hành tây, thêm một số rau gia vị như hành lá, ớt, gừng cùng với hành phi, tỏi phi.

Trộn đều rồi cho ra dĩa, thêm ít rau ngò và vài lát ớt đỏ lên trên để trang trí.

Dùng ăn không hoặc ăn trong bữa cơm.

2. Món gan heo nướng hành tây giúp mạnh khí lực, bổ huyết, tăng cường thị lực

Dùng 300 g gan heo tươi, khứa nhiều khía rãnh nhỏ trên gan, 250 g hành tây tươi giã nát, bọc quanh gan.

Lấy lá cây chuối hột bọc kín lại. Nướng chín trên bếp than cháy đỏ. Dùng với nước chấm hoặc muối tiêu.

3. Canh cua đồng, hành tây

Cua đồng 500 g, rửa sạch, để ráo, giã nhỏ, cho vào tấm vải lược vắt lấy nước, bỏ bã để làm riêu cua. Hành tây 200 g tươi. Nấu canh riêu cua với hành tây. Dùng ăn nóng trong bữa cơm.

Món ăn này có ích cho những người bị té ngã gãy xương, đau lưng, đau các khớp, vận động khó khăn. Những người bị sỏi đường tiết niệu thì không nên dùng.

4. Món bò xào hành tây 

Đây là món ăn rất ngon miệng lại có lợi cho sức khỏe, có tác dụng bổ huyết, thông khí, giảm đau, tăng cường thị lực.

Nguyên liệu: Thịt bò phi lê 100 g, đậu đũa 50 g, cà rốt xắt mỏng 50 g, cà chua bi 50 g, hành tây 50 g, hành tím xắt nhỏ 1 muỗng cà phê, nghệ tươi 1 củ, tỏi băm, hạt nêm, đường, dầu hào, tương ớt, dầu ăn lượng vừa đủ dùng.

Cách làm: Gọt vỏ nghệ, giã nhỏ vắt lấy nước. Xắt vuông thịt bò, ướp với nghệ, hành, tỏi băm, dầu hào, tương ớt. Đun nóng dầu, phi thơm hành, tỏi, cho thịt bò vào đảo nhanh tay, nêm gia vị. Đun chút dầu khác, xào cà rốt, đậu đũa cắt khúc, hành tây cắt vuông, cà chua bổ đôi, cho thịt bò vào đảo đều, nêm gia vị. Dùng nóng trong bữa cơm.

Cách dùng thuốc chữa táo bón

Suckhoedoisong.vn - 02/11/2013 2105

Khi bị táo bón có thể xuất hiện các triệu chứng như đầy bụng, trướng bụng, mệt mỏi, buồn nôn, nhức đầu... táo bón lâu ngày có thể gây nổi mụn trên da, trĩ, nhiễm độc cơ thể, nặng hơn là ung thư đại - trực tràng.


Nguyên nhân dẫn đến táo bón do ăn uống không hợp lý như trong khẩu phần ăn thường ngày bị thiếu chất xơ, uống ít nước làm cho phân cứng khó đào thải ra ngoài, ít vận động, stress, do uống thuốc tây có tác dụng phụ gây táo bón như các loại thuốc chữa dạ dày, tăng huyết áp...

Tuy nhiên còn tùy theo cơ chế tác dụng, nên các thuốc điều trị bệnh táo bón được chia ra các loại sau:

Thuốc trị táo bón tạo khối (igol, metamucil): nhóm thuốc này chứa chất xơ, chất sợi (từ vỏ, hạt, củ), chất nhầy (thạch rau câu), cám lúa mì, được cấu tạo gồm những hạt rất nhỏ có thể giữ một thể tích nước gấp nhiều lần thể tích của chúng. Khi uống vào thuốc sẽ hút nước làm tăng thể tích phân ở trực tràng tạo phản xạ đi tiêu tự nhiên. Nhóm thuốc này có tác dụng tương đối chậm nhưng ít can thiệp vào hoạt động bình thường của đại tràng hơn những thuốc nhuận tràng khác.

Thuốc trị táo bón thẩm thấu (sorbitol, forlax, lactitol): chứa các muối vô cơ, đường. Khi uống vào, thuốc giữ nước trong lòng ruột giúp thải phân ra ngoài dễ dàng hơn.
Cách dùng thuốc chữa táo bón 1

Các thuốc làm mềm phân (docusat) giúp nước thấm vào khối phân, làm phân mềm và dễ di chuyển hơn.

Các thuốc bôi trơn (norgalax, microlax): dùng bơm hậu môn. Thuốc chứa dầu khoáng chất (parafin) và các chất giúp thấm nước tốt (glycerin). Không dùng thuốc quá lâu ngày vì có thể làm kích ứng niêm mạc trực tràng, làm tổn thương niêm mạc trực tràng.

Thuốc trị táo bón kích thích (bisacodyl, cascara): thuốc tác động trực tiếp lên thần kinh chức năng vận động bài tiết của ruột, gây co bóp các cơ thành ruột tạo nhu động ruột đẩy phân ra ngoài. Không nên dùng thuốc này quá một tuần vì chúng có thể gây đau quặn bụng và tiêu chảy. Không dùng nhóm thuốc này cho phụ nữ có thai và chỉ dùng khi những điều trị khác bị thất bại.

Mặt khác, có thể dùng phương pháp điều trị kết hợp hỗ trợ như dùng sữa chua hoặc sữa bột có bổ sung chất xơ, trà thảo dược...

Chú ý không được sử dụng bất kỳ một loại thuốc điều trị bệnh táo bón nào kéo dài quá 8 - 10 ngày. Sử dụng thuốc phải có chỉ định của bác sĩ. Sau khi điều trị bằng thuốc giúp cơ thể vượt qua giai đoạn bất bình thường trong bài tiết, cần điều chỉnh lại lối sống, chế độ ăn uống, luyện tập cho phù hợp.

Để phòng tránh táo bón: cần tạo ra thói quen đi tiêu hàng ngày vào một thời gian nhất định (tốt nhất vào buổi sáng khi thức dậy); không được nhịn đi tiêu; nên ăn nhiều rau, hoa quả chứa nhiều chất xơ; tập thể dục đều đặn (điều này không chỉ giúp chúng ta có được sức khỏe tốt, thân hình cân đối mà còn rất tốt cho hệ tiêu hóa); uống nhiều nước hàng ngày sẽ giúp làm sạch hệ tiêu hóa và làm mềm phân để đẩy ra ngoài được dễ dàng. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét